14/04/2018 02:57

Kỹ thuật gây mê cho cá

Cá thường có phản ứng mạnh khi bị vận chuyển hoặc xử lý hóa chất. Gây mê là một trong những biện pháp nhằm hạn chế thương tổn cho cá trong quá trình kiểm tra, vận chuyển và chẩn đoán lấy mẫu.

Kỹ thuật gây mê cho cá - ảnh 1

Cần có kỹ thuật để đảm bảo gây mê cho cá thành công Ảnh: CTV

Vai trò

Việc gây mê giúp đảm bảo thành công, nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình vận chuyển, tiêm thuốc, vuốt trứng… Ngoài ra, trong một số trường hợp, việc nhúng cá vào chất gây mê rồi chuyển cá sang thiết bị vận chuyển còn có tác dụng giữ cho cá được đẹp, không bị bong tróc vẩy hay trầy xước. Khi gây mê, người nuôi cần xem xét và dựa vào một số tiêu chuẩn như: Độ an toàn cho người thao tác và cho người sử dụng tôm, cá làm thực phẩm; Tỷ lệ sống sau vận chuyển, tình trạng sức khỏe cá sau vận chuyển; Chi phí sử dụng; Khả năng thay đổi màu sắc, mùi vị cơ thịt cá bị chết trong quá trình vận chuyển.

Chuẩn bị

Người nuôi cần mang găng tay sạch và thấm ướt khi thực hiện, rửa sạch bột từ găng tay nếu có. Trong suốt quá trình thực hiện, cá cần được giữ ướt.

Không cho cá ăn trong 12 - 24 giờ trước khi gây mê để bảo đảm dạ dày hoàn toàn trống. Khi bắt cá, chú ý giữ tay luôn ướt và thao tác nhẹ nhàng sao cho không làm trầy xước da cá.

Kiểm tra và duy trì các thông số môi trường (nhiệt độ, pH, độ mặn, ôxy hòa tan…) ở bể (xô, chậu) xử lý giống với môi trường nước nuôi để tránh gây sốc cho cá. Nhiệt độ không được chênh lệch quá 20C. Vệ sinh bể sạch sẽ, loại bỏ các chất cặn bẩn. Phần lớn chất gây mê có tính axit làm giảm pH của môi trường, trong thường hợp này, người nuôi có thể sử dụng muối đệm như sodium bicarbonate (NaHCO3) để điều chỉnh pH đến mức phù hợp. Bố trí sục khí liên tục nhằm duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong môi trường nước.

Thuốc gây mê lý tưởng để sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các yêu cầu như không độc với thủy sản và người sử dụng, an toàn với môi trường, tác dụng gây mê nhanh. Chất gây mê phải chuyển hóa hoặc bài tiết nhanh, thời gian phân hủy ngắn, không để lại tồn dư hoặc tồn dư không đáng kể trong các mô của cơ thể. Dựa vào các tiêu chí nêu trên, hiện nay tại Mỹ và các nước châu Âu chỉ cho phép sử dụng duy nhất loại thuốc Tricaine methanesulphonate (còn có các tên gọi khác như Metacaine, Tricaine, MS 222, Finquel, TMS) để gây mê cho cá dùng làm thực phẩm cho người. Đây là loại thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới với độ an toàn cao cho nhiều loài cá và tôm.

Gây mê và theo dõi

Để gây mê theo phương pháp tắm, trước hết cần hòa tan thuốc gây mê vào nước, sau đó thả cá vào. Chất gây mê sẽ xâm nhập qua tơ mang cá trong hô hấp, hòa vào máu và chuyển lên não, tác dụng làm cho cá chuyển trạng thái mê. Khi đó, cá sẽ hoạt động chậm lại, sau đó mất cân bằng và không phản ứng khi bị bắt giữ, đụng chạm.

Liều gây mê cần phù hợp với mục đích và loài khác nhau. Chẳng hạn như MS 222 có thể gây mê cho cá rô phi ở liều 50 g/m3 nước sau vài chục giây nhưng để gây mê tôm càng xanh thì phải dùng ở liều rất cao là 280 g/m3 sau 30 phút. Liều sử dụng cho cá bố mẹ thấp hơn so với cá con, bởi cá bố mẹ có độ béo cao sẽ giữ lại chất gây mê lâu hơn, từ đó phân hủy chậm và gây tác dụng dài. Lưu ý, khi vận chuyển trong thời gian dài, chỉ nên sử dụng liều thấp. Để bảo đảm quản lý được tác dụng của chất gây mê, không nên gây mê khi tổng khối lượng cá vượt quá 80 g/lít (80 kg/m3).

Trong quá trình thao tác, cần quan sát kỹ trạng thái của cá để xử lý kịp thời nếu có sự cố.

Quá trình phục hồi

Trong quá trình phục hồi, sự đảo ngược các giai đoạn gây mê sẽ xảy ra với quá trình gia tăng dần sự vận động, trạng thái cân bằng và hoạt động bơi lội bình thường.

Hầu hết cá được phục hồi hoàn toàn từ các chất gây mê ngâm trong vòng 5 phút sau khi đặt trong nước ngọt. Thời gian hồi sức kéo dài (> 10 phút) cho biết chiều sâu gây mê quá mức hoặc động vật bị tổn hại. Khi cá được đưa vào môi trường nước sạch mới, thuốc mê bị bài thải hết, cá sẽ dần trở lại trạng thái bình thường. Do đó, ngay sau khi hoàn thành các thao tác cần chuyển cá sang bể nước sạch để hồi sức càng nhanh càng tốt. Bể hồi sức cần có nước sạch và đảm bảo thông số môi trường như bể gây mê, duy trì sục khí liên tục. Sau khi hồi sức, chuyển cá về ao nuôi.

Xem thêm: Bệnh do virus trên cá lồng

Theo Kim Tiến/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: nuôi cá, tiêm thuốc, gây mê cho cá, kỹ thuật gây mê cho cá, vận chuyển cá, vuốt trứng

TIN KHÁC

Những tiến bộ kỹ thuật trong ương tôm hùm giống THỦY-HẢI SẢN

Những tiến bộ kỹ thuật trong ương tôm hùm giống

Tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực vùng ven bờ khu vực Nam Trung bộ, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu nhập cho người dân và giúp chuyển đổi nghề đánh bắt ven bờ làm cạn kiệt nguồn lợi sang phát triển nuôi trồng thủy sản.

Đây là cách ương cá con đánh bắt trong tự nhiên có trọng lượng 0,5 - 1 g/con thành cân nặng 10 - 15 g/con.

Tảo có vai trò rất quan trọng trong ao tôm. Tuy nhiên, sự mất cân bằng về số lượng tảo có thể gây nguy hiểm cho hệ sinh thái ao và tôm nuôi.

Tuy lươn là đối tượng dễ nuôi, nhưng hầu hết giống đều đánh bắt từ thiên nhiên chưa được thuần hoá, do vậy khi nuôi lươn bà con nông dân cần áp dụng các giải pháp phòng bệnh ngay từ khi thả giống.

Virus là tác nhân gây nhiều bệnh nguy hiểm trên cá lồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của người nuôi. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị.

Ao nuôi cá rô phi tốt nhất có diện tích 1000 - 2000 m2.

Về mùa xuân, cá nuôi trong ao thường mắc hai căn bệnh là bệnh xuất huyết ở cá chép và bệnh vảy thẳng đứng

Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa ban hành quyết định “Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp trong khu vực rừng ven biển” làm cơ sở để các địa phương xây dựng hướng dẫn chi tiết đối với từng phương thức sản xuất cụ thể cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện...

Tảo là nguồn cung cấp ôxy chính cho hô hấp của tôm, đồng thời hấp thu muối dinh dưỡng, giảm độ trong nước, giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi… Khi mật độ tảo cao sẽ gây nở hoa trong nước, gây thiếu ôxy cho ao tôm về đêm. Quản lý tốt tảo trong ao là rất cần thiết.

Ban biên tập Trang web Khuyến nông Việt Nam xin giới thiệu tiếp kỳ 2 một số bệnh thường gặp trên cá nuôi lồng tại một số tỉnh phía Bắc và các biện pháp phòng trừ.

Xem tiếp