10/07/2017 10:23

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh không có lũ

Mực nước lũ ở khu vực ĐBSCL những năm gần đây luôn ở mức thấp, không đủ để tràn đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi tôm càng xanh của bà con nơi đây. Do đó, mô hình nuôi tôm càng xanh không có lũ phát triển nhằm thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay.

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh không có lũ - ảnh 1

Sau 2 - 2,5 tháng nuôi, thu hoạch tôm cái để giảm chi phí nuôi       Ảnh: Diệu Lữ 

Chuẩn bị ruộng nuôi

Tiến hành cắt dọn sạch gốc rạ, sên vét mương bao, bừa trục mặt ruộng, sửa lại bờ bao, lắp các lỗ mọi, hang hốc. Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích 0,1 - 1 ha, thông thường 0,2 - 0,5 ha. Bờ ruộng chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dễ dàng cấp và tiêu nước. Mực nước trong ruộng đảm bảo 1,8 - 2 m.

Cần thiết kế ao ương nằm trong ruộng nuôi với diện tích khoảng 30% tổng diện tích ruộng nuôi; mục đích thuần dưỡng tôm trong giai đoạn ban đầu, giúp cho việc chăm sóc và quản lý được thuận lợi. Ngoài ra, xây dựng ao ương chính là giúp việc phân loại (đực và cái) khi thả tôm ra ruộng nuôi được dễ dàng, tốn ít chi phí cho việc kéo lưới, đồng thời giảm hao hụt do xây xát. Mực nước trong ao ương phải luôn ở mức 1,2 - 1,4 m.

Chọn tôm giống

Có thể lựa chọn nguồn giống tự nhiên hoặc giống nhân tạo. Chọn tôm màu sắc tươi sáng, đều cỡ, khỏe mạnh, không dị tật dị hình, và đã qua kiểm dịch của cơ quan chuyên môn.

Mật độ thả

Mật độ nuôi trong ao ương là khoảng 50 con/m2. Hoặc có thể thay đổi tùy theo khả năng bổ sung giống và thức ăn.

Thức ăn

Sử dụng cả 2 loại thức ăn công nghiệp (có độ đạm 38 - 42%) và thức ăn tươi sống như cua, ốc, cá tạp… Tùy vào giai đoạn sinh trưởng và sức khỏe của tôm nuôi để điều chỉnh lượng thức ăn, dao động 5 - 30% trọng lượng tôm. Tuy nhiên, cần lưu ý không sử dụng quá nhiều thức ăn tươi sống để tránh làm ô nhiễm môi trường nước.

Quản lý cho ăn

Cho ăn 2 - 4 lần/ngày. Thức ăn nên được rải nhiều điểm trong ao ương hay sàng ăn đặt trong ruộng nuôi. Cần theo dõi khả năng bắt mồi và độ no trên dạ dày của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp, tránh trường hợp dư thừa.

Chăm sóc, quản lý

Vì trong điều kiện nuôi khép kín dẫn đến nguy cơ thiếu ôxy cục bộ có thể xảy ra, đặc biệt là trong giai đoạn ương dưỡng. Vì vậy, cần thiết phải có hệ thống quạt nước được lắp đặt trong ao ương nhằm làm tăng hàm lượng ôxy hòa tan, giúp tôm sinh trưởng và phát triển tốt. Máy quạt nước được đặt cách bờ 3 - 4 m nhằm tránh hiện tượng dòng chảy làm vỡ bờ hay làm đục nước sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của tôm. Đối với ruộng nuôi không cần thiết phải lắp đặt quạt nước do lúc này tôm được nuôi với mật độ thưa, nhu cầu ôxy không quá cao. Ngoài ra, người nuôi cần đặt giá thể (chà) trong ruộng nuôi, giá thể được làm bằng những loại cây không có tinh dầu như tre, nứa… được đặt nghiêng một góc 300 so mặt đáy ruộng. Việc đặt giá thể giúp tôm có chỗ trú ẩn và tránh hiện tượng ăn nhau khi lột xác.

Tốt nhất không nên sử dụng thuốc trừ sâu, sẽ làm ảnh hưởng đến tôm. Khi thu hoạch lúa cần tháo nước, thu hoạch xong lại cho nước vào để tôm lên ruộng ăn thức ăn tự nhiên. Giai đoạn này cần thay nước thường xuyên để tránh thối nước do gốc rạ.

Phòng chống và theo dõi thường xuyên địch hại của tôm để giảm sự ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và năng suất của tôm.

Thu hoạch

Sau thời gian 2 - 2,5 tháng ương, tôm cái đã bắt đầu mang trứng và có thể phân biệt bằng mắt thường, tiến hành kéo lưới để lựa tôm đực cho ra ruộng nuôi khoảng 3 - 4 tháng nữa. Đối với tôm cái, đến giai đoạn sinh sản sẽ không tăng trọng lượng do tôm tập trung dinh dưỡng để phát triển buồng trứng, vì vậy nếu tiếp tục nuôi sẽ không hiệu quả, nên tiến hành thu hoạch để thu hồi một phần chi phí.

Xem thêm: Ương nuôi tôm giống khép kín

Theo Kim Tiến/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: bệnh trên tôm, Kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật nuôi tôm

TIN KHÁC

Kinh nghiệm nuôi cá chim vây vàng

Kinh nghiệm nuôi cá chim vây vàng

Với 50 lồng nuôi ở khu vực đầm Nha Phu, gia đình chị Võ Thị Thu Thủy ở thôn Ngọc Diêm, xã Ninh Ích, TX Ninh Hòa (Khánh Hòa) chỉ thả đơn thuần cá chim vây vàng mỗi năm kiếm lời hàng trăm triệu đồng.

Tôm càng sông (Macrobrachium nipponensis) là loài bản địa có khả năng thích nghi cao với môi trường. Khi nuôi, tôm càng sông lớn nhanh, ít bệnh tật; có thể thả giống một lần thu hoạch quanh năm.

Thời gian gần đây, trước những tác động của biến đổi khí hậu, ngành tôm đã gặp phải nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề đặt ra để vực đậy con tôm là, quy trình nuôi tôm cần đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Với hình thức nuôi tổng hợp tôm - cua - cá với mật độ phù hợp, hầu hết người nuôi thu nhập khoảng 30-40 triệu/ha, năng suất bình quân 1.300 kg/ha/vụ.

Mô hình nuôi tôm an toàn sinh học ngày càng được áp dụng rộng rãi, nhằm giảm rủi ro do dịch bệnh gây nên. Sử dụng rơm ủ hỗn hợp men vi sinh và phân vô cơ là giải pháp mang lại hiệu quả cao, ít tốn chi phí.

Vào cuối vụ nuôi, cá rô đồng thường xuất hiện bệnh nấm nhớt làm ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm và hiệu quả kinh tế.

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã thực hiện nghiên cứu tác dụng diệt khuẩn của dịch chiết lá sim và hạt sim đối với vi khuẩn gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) trên tôm nuôi nước lợ.

Để nuôi tôm có hiệu quả, cần nắm rõ những tác động đến tôm hùm dưới đây

Sản lượng tôm nuôi tăng mạnh chủ yếu do nhiều địa phương chuyển đổi phần lớn diện tích nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng (TTCT), đồng thời tăng diện tích nuôi thâm canh, bán thâm canh với nhiều quy trình công nghệ mới, năng suất và hiệu quả cao.

Xem tiếp