22/05/2017 10:57

Phòng trị hiện tượng vàng lá, rụng trái cà phê

Do Bón phân không kịp thời, lượng phân Bón ít so với nhu cầu của cây, dẫn đến tình trạng cây thiếu dinh dưỡng, cây cằn cỗi, lá vàng hàng loạt.

Phòng trị hiện tượng vàng lá, rụng trái cà phê - ảnh 1

1. Nguyên nhân do sinh lý

1.1. Vàng lá rụng trái do bón phân không đầy đủ hoặc không kịp thời:

- Do Bón phân không kịp thời, lượng phân Bón ít so với nhu cầu của cây, dẫn đến tình trạng cây thiếu dinh dưỡng, cây cằn cỗi, lá vàng hàng loạt. Trường hợp này trái cà phê chỉ rụng ở những cây kém phát triển, trái nhỏ, rụng ở các chùm trái gần gốc trước, đầu cành sau, kèm theo rụng lá nhiều.

1.2. Vàng lá rụng trái do bón phân không cân đối:

- do Bón phân hoá học npk thiếu cân đối như Bón nhiều đạm, ít kali dẫn đến tình trạng cây phát triển mạnh cành vượt, lá non vẫn xanh, lá mỏng lá già vàng từ chóp lá trở xuống, rìa lá trở vào, lá già vàng trước từ cành dưới lên cành trên, vàng từ trong cành ra ngoài. cây có thể rụng trái hàng loạt khi gặp mưa lớn, trái nhỏ, rụng nhiều, trái gần gốc rụng trước.

1.3 Do thiếu trung, vi lượng:

Vườn cà phê được bón đầy đủ các nguyên tố npk nhưng lại có hiện tượng lá bị vàng ở các vùng khác nhau trên phiến lá, lá có thể nhỏ hơn bình thường, chồi non chậm phát triển hoặc phát triển bất thường, trái nhỏ hoặc ít trái… do nguyên nhân thiếu trung, vi lượng.

- Thiếu kẽm lá thường nhỏ hơn, gân lá xanh sẫm nổi lên rõ rệt trên nền phiến lá chuyển từ xanh nhạt đến vàng nhạt, đốt Ngọn ngắn lại phát triển thành chùm, rìa lá cong lên.

- Thiếu sắt thường xuất hiện trên các lá non, lá có màu vàng nhưng gân lá Còn xanh gần giống như bệnh thiếu kẽm.

- Thiếu bo thường xảy ra ở các Chồi Ngọn của thân chính và cành ngang chuyển vàng hoặc chết dẫn đến cành phát triển thành chùm như hình quạt. lá nhỏ hơn bình thường và biến dạng cong mép, lá màu xanh ôliu hay xanh vàng ở nửa cuối của phiến lá, lá mỏng, cuống trái yếu.

- Thiếu canxi, lá non thường bị vàng từ rìa lá vào giữa phiến lá, chỉ Còn một vùng lá có màu xanh tối dọc theo hai bên gân chính, trái dễ bị rụng.

- Thiếu ma-nhê lá bắt đầu vàng từ gân chính của lá rồi lan rộng gần ra phái rìa lá ở vùng giữa của các gân phụ của lá.

- Thiếu man-gan có biểu hiện màu vàng hơi nhạt ở cặp lá trưởng thành cuối cùng, sau đó chuyển sang màu vàng chanh sáng có những đốm trắng.

- Thiếu lưu huỳnh phần lớn lá có màu vàng hơi nhạt, sau đó chuyển sang màu vàng sáng.

1.4 Do cây già cỗi:

- Cây có dấu hiệu sinh trưởng phát triển chậm lại: ít cành dinh dưỡng và Chồi vượt, trái nhỏ dần, rễ tơ kém phát triển, cây cằn cỗi mặc dù được Bón phân đầy đủ, lá vàng hàng loạt.

2. Nguyên nhân do sâu bệnh hại:

- Bệnh khô cành, khô quả, bệnh nấm hồng, bệnh vàng lá do tuyến trùng, nấm, ấu trùng ve sầu, mọt đục cành, mọt đục quả, rệp sáp cũng là các nguyên nhân gây ra hiện tượng vàng lá rụng trái cà phê hàng loạt 

2.1 Bệnh khô cành, khô quả: do nấm collectotrichum coffeanum là tác nhân chính gây rụng trên cây cà phê. Biểu hiện trên đoạn cành có trái vàng dần và khô, trái khô đen và rụng. Bệnh thường xuất hiện trên các cây cà phê cằn cỗi, kém phát triển do thiếu dinh dưỡng hoặc trên những cây nhiều trái nhưng bón phân đạm nhiều, bón thiếu cân đối. Bệnh phát sinh vào đầu mùa mưa và phát triển mạnh nhất khi trái được khoảng 6 -7 tháng tuổi. Khác với rụng trái do bón phân không đầy đủ và thiếu cân đối, rụng trái do bệnh khô cành, khô quả chỉ rụng ở những cành bị bệnh, còn các cành không bị bệnh trái vẫn phát triển bình thường.

2.2 Bệnh nấm hồng: do nấm corticium salmonicolor, biểu hiện đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn. Những chấm này phát triển tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử quả thường từ cuống quả. Bệnh phát sinh ở trên cành gần nơi phân cành tạo ra vết bệnh màu phớt hồng, lúc đầu nhẵn sau dày lên và màu hồng càng rõ, trên mặt có lớp bột màu hồng nhạt mịn, đó là các bào tử của nấm. vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành và dần dần bọc hết chu vi cành, làm lá bị vàng, quả bị rụng non và cành chết khô.

2.3 Do tổ hợp các loài nấm gây hại rễ (fusarium sp, rhizoctonia sp, pithium sp) chủ yếu là nấm fusarium sp.

- Cây sinh trưởng chậm, lá vàng rất dễ nhầm với vàng lá do kém Chăm sóc và thiếu dinh dưỡng.Một số triệu chứng khác có thể kèm theo như: phần cổ rễ bị khuyết dần vào trong, gốc cây bị long, nứt thân, rễ cọc bị thối và đứt ngang, rễ tơ gần mặt đất phát triển mạnh hoặc rễ tơ bị thối đen từ chóp rễ vào, cây bị hại nặng các rễ lớn cũng bị thối đen từ lớp vỏ ngoài vào, về sau các rễ này bong tróc vỏ và khô dần.

2.4 Do tuyến trùng:

- Cây cà phê bị tuyến trùng gây hại thường sinh trưởng kém,lá vàng héo vào mùa khô. vàng lá rất dễ nhầm với triệu chứng vàng lá do cây chăm sóc kém và thiếu dinh dưỡng. ở cây cà phê chủ yếu là 2 nhóm: tuyến trùng pratylenchus, aphelenchoides sp gây triệu

2.5 Do sâu hại

- Do ấu trùng ve sầu chích hút tạo nên các Vết thương cơ giới là Điều kiện hết sức thuận lợi cho các đối tượng Nấm bệnh, tuyến trùng xâm nhập và gia tăng mật số làm cho cây cà phê bị vàng lá, rụng quả.

- Rệp sáp: rệp sáp sống chủ yếu giữa các chum quả, chích hút cuống quả, quả non làm quả khô và rụng. quả cà phê sau khi bị rệp sáp gây hại sẽ tạo muội đen vì vậy Nếu không bị rụng thì quả cũng khó phát triển.

- Mọt đục quả: mọt trưởng thành thường đục một lỗ tròn nhỏ cạnh núm hay giữa núm quả để chui vào trong nhân, đục phôi nhũ tạo thành các rãnh nhỏ để đẻ trứng, sâu non ăn phôi nhũ hạt. Lúc đầu mọt chỉ phá hại một hạt nhân nhưng khi số lượng mọt tăng thì phá hại luôn hạt nhân Còn lại.

- Mọt đục cành: mọt đục lỗ nhỏ dưới các cành tơ làm cành hay Chồi bị héo, lá có mầu nâu sẫm và chết khô cả cành.

3. Biện pháp phòng trị hiện tượng vàng lá rụng trái cây cà phê

3.1. Biện pháp canh tác:

- Cắt tỉa các Chồi vượt, cành trong tán, cành tăm, cành thừa để tập trung dinh dưỡng Nuôi trái.

+ Tỉa những cành khô, già cỗi, cành bị sâu bệnh tạo cho vườn cây thông thoáng, cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng sức chống chịu sâu bệnh, hạn chế sự lây lan của các loại bệnh gây rụng trái.

- Vệ sinh đồng ruộng: thường xuyên thu gom các cành, lá, hoa quả bị bệnh phơi khô đem đốt để ngăn ngừa sự phát tán nguồn bệnh.

- Bón phân cân đối, hợp lý.

+ Vườn cà phê đang ở giai đoạn nuôi trái mà có hiện tượng rụng trái là do bón phân không đầy đủ và thiếu cân đối (bón nhiều đạm và ít kali) thì phải bổ sung ngay lượng phân npk bón gốc quy định ở giai đoạn nuôi trái (từ 700-1000kg npk (16-16-8)/ha tùy the

+ Để hạn chế rụng trái do thiếu dinh dưỡng, đảm bảo năng suất, chất lượng cà phê hàng năm. Nông dân nên thực hiện quy trình bón phân đối với cà phê kinh doanh (giai đoạn từ 4 năm tuổi trở lên) như sau:

a. Liều lượng và thời điểm bón phân hữu cơ:

a.1 Phân chuồng

- Mới trồng: 8 – 10tấn/ha

- Các năm sau: 10 tấn/ha (2 năm bón 1 lần)

a.2 Phân hữu cơ vi sinh

- 1.5-2 tấn/ha/năm

- Tàn dư thực vật hữu cơ (cỏ dại, phế phụ phẩm từ việc tạo hình, vỏ quả cà phê).

- Giữ lại tất cả tàn dư thực vật trên vườn cà phê (trừ những thân, cành bị nhiễm bệnh phải đem ra ngoài tiêu hủy).

* Bón phân cho cây cà phê:

- Phân chuồng và vỏ cà phê được ủ hoai mục trước khi bón, phân hữu cơ được bón theo rãnh vào đầu hoặc giữa mùa mưa, rãnh được đào theo hình vành khăn dọc theo một bên thành bồn, rộng 20cm, sâu 25-30cm, sau khi bón phân cần lấp đất lại. Các năm sau rãnh đư

- Kỹ thuật xử lý vỏ cà phê làm phân Bón

+ Nguyên liệu: 1 tấn vỏ cà phê + 50kg phân lân + 200-250kg phân chuồng + 8-10kg vôi + 8-10kg urê + 2-3kg men ủ vi sinh vật (chế phẩm nấm trichoderma).

+ Kỹ thuật ủ như sau:

Phối trộn nguyên liệu: trộn đều vỏ quả cà phê, phân chuồng, phân lân, phân urê theo tỷ lệ trên, kết hợp tưới nước cho đến khi đống ủ nguyên liệu có độ ẩm từ 50-60% (dùng tay bốc lên, nắm chặt thấy có nước rỉ ra là được). sau đó đánh luống nguyên liệu cao khoảng 1,5-2,0m. dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ tránh mưa, nắng.

Hoạt hóa men: sau 5 ngày ủ, hòa 2-3kg vi sinh vật trong 200 lít nước sạch + 1kg rỉ mật mía hoặc đường kính + 0,1 kg urê khuấy đều cho tan hết hỗn hợp.

Tưới men: sau khi đã hoạt hóa men xong, tiến hành tưới toàn bộ hỗn hợp men (kể cả phần cặn không tan) lên đống nguyên liệu và trộn đều. Sau đó gom nguyên liệu thành đống cao 1,5m, rộng 2-2,5m, chiều dài tùy theo vị trí và khối lượng nguyên liệu. dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ để tránh mưa, nắng.

Đào đống nguyên liệu: sau khi ủ được từ 20-30 ngày, tiến hành đảo trộn lại đống ủ, nếu thiếu ẩm, cần bổ sung thêm nước để đạt được độ ẩm từ 50-60%. dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ để tránh mưa, tránh nắng. Đống nguyên liệu ủ trong 2,5-3 tháng sẽ hoai mục và có thể đem đi bón cho cây trồng. liều lượng và cách bón thực hiện như quy trình bón phân hữu cơ khác đã được khuyến cáo.

a.3 Phân hóa học

- Để xác định chế độ phân bón cân đối và hợp lý cho từng vùng cần căn cứ vào độ phì của đất và khả năng cho năng suất của vườn cây cà phê. Những vùng chưa có điều kiện phân tích đất, phân tích lá thì có thể áp dụng định lượng phân bón vô cơ như sau:

* Liều lượng phân bón vô cơ cho cà phê vối (tính theo hàm lượng nguyên chất):

Tuổi cây Kg nguyên chất

N P2O5 K2O

Năm 1 60 60 30

Năm 2 120 75 100

Năm 3 150 90 130

Năm 4 trở đi 280 100 300

Lưu ý: cứ mỗi tấn cà phê nhân khô tăng thêm cần bón tăng 60kg n+ 20kg p2o5+ 60kg k2o

* Lượng phân thương phẩm bón cho cà phê hàng năm:

- Nếu dùng các loại phân đơn thì bón với lượng như sau:

Tuổi cây Loại phân

Sunphát amôn (sa) Urê Lân super Kali clorua

Năm 1 - 130 400 50

Năm 2 80 220 500 170

Năm 3 100 280 600 280

Năm 4 trở đi 200 520 700 500

- Nếu dùng các loại phân hỗn hợp như npk16-16-8 + 13s thì dùng với lượng sau:

Tuổi cây Loại phân

Sunphát amon (sa) Urê Phân npk (16:16:8+13s) Kali clorua

Năm 1 0 0 400 0

Năm 2 0 93 500 103

Năm 3 0 117 600 200

Năm 4 trở đi 0 368 700 407

a.4 Thời kỳ bón phân:

- Tùy theo điều kiện thời tiết của từng vùng mà các đợt bón phân có thể vào các tháng khác nhau giữa các vùng. ở lâm đồng, mỗi năm có thể bón 4 lần như sau:

+ Lần 1 (giữa mùa khô, kết hợp tưới nước lần 2, tháng 1-2): bón 100% lượng phân sa.

+ Lần 2 (đầu mùa mưa, tháng 5-6): 30% phân urê, 30% phân kali và 100% phân lân.

+ Lần 3 (giữa mùa mưa, tháng 7-8): 40% phân urê, 30% phân kali.

+ Lần 4 (cuối mùa mưa, tháng 9-10): 30% phân urê, 40% phân kali.

+ Riêng năm thứ nhất (năm trồng mới): bón lót toàn bộ phân lân, phân urê và kali được chia đều và bón 2 lần trong mùa mưa.

Nếu sử dụng phân npk16-16-8 +13s, urê, kali clorua thì bón như sau:

+ Lần 1: bón 80% lượng phân urê.

+ Lần 2: bón 60% phân npk + 20% phân kali.

+ Lần 3: bón 40% phân npk + 40% phân kali.

+ Lần 4: bón 20% phân urê còn lại + 40% phân kali còn lại.

Đối với trồng mới thì bón lót 70% lượng phân npk, 30% còn lại bón sau trồng 2 tháng trong mùa mưa.

a.5 Cách bón

- Phân lân: rải đều trên mặt, cách gốc 30-40cm. lưu ý: không được trộn phân lân nung chảy với phân đạm.

- Phân đạm và kali có thể trộn đều và bón ngay. Đào rãnh chung quanh tán cây cà phê, rộng 10-15cm, sâu 5cm, rải phân đều và lấp đất.

a.6 Bón phân trung, vi lượng

- Ngoài các yếu tố đa lượng (n, p, k), cây cà phê cần một số nguyên tố trung, vi lượng (zn, b, mn, mg...).

- khi vườn cà phê có triệu chứng thiếu các yếu tố trung, vi lượng, có thể cung cấp các Chất này cho vườn cà phê bằng cách phun qua lá các hợp Chất có chứa các nguyên tố cần Thiết đó.

-Một số hợp chất có chứa trung, vi lượng thường dùng cho cây cà phê:

Nguyên tố vi lượng

Hợp chất hóa học  

Nồng độ sử dụng (%)

ZN                                          

ZnSO4                                 

0,4 - 0,6

B

H3BO4

0,3 - 0,4

MMg

MgSO4

0,4 - 0,6

Mn

MnSO4

0,4 - 0,6

Cách bón: Phun 600-800 lít dung dịch hòa tan hợp chất cần thiết/ha hoặc bón vào gốc cùng với phân vô cơ.

Ngoài ra, để tăng khả năng sinh trưởng phát triển và phục hồi bộ rễ cà phê có thể sử dụng một số loại phân bón lá để phun hoặc tưới gốc cho cà phê theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Theo Mard.gov.vn

Tags: cà phê, bệnh ở cây cà phê

TIN KHÁC

Kỹ thuật chăm sóc chè đinh CÂY CHÈ

Kỹ thuật chăm sóc chè đinh

Hướng dẫn về kỹ thuật chăm sóc chè Đinh từ chuyên gia bộ Nông Nghiệp

Cà phê thiếu lân: biểu hiện cây không ra hoa phát triển kém hơn những cây có hoa, lá bị vàng

Kỹ thuật giúp điều ra hoa tập trung sau khi không ra hoa, chỉ lên đọt. Cụ thể như sau.

Hướng dẫn phương pháp dùng nước tiểu trâu bò làm nước tưới cho cây tiêu từ mới trồng đến khi phát triển.

Diệt chồi là biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất, chất lượng của cây thuốc lá. Định mức sử dụng thuốc diệt chồi cho 01ha thuốc lá cần 1,5 - 2 lít thuốc diệt chồi ACCOTAB, cứ 01 lọ thuốc diệt chồi 100ml pha được 10 lít dung dịch thuốc diệt chồi.

Hồ tiêu là cây pháp triển tốt trên đất phì nhiêu, giàu chất hữu cơ, tơi xốp, thoát nước tốt, pH từ 5,5 - 6,5, tầng canh tác trên 70cm, độ dốc dưới 100. Hồ tiêu cần nhiều dinh dưỡng.

Để bảo toàn phân bón (không bị bay hơi, xói mòn) và cà phê không bị cháy lá (do phân bốc hơi) đồng thời cung cấp dinh dưỡng cho cà phê kịp thời, cần bón phân đúng thời kỳ khi đất đã đủ ẩm bằng cách rạch rãnh, bón phân, lấp đất. Không nên chờ bón theo mưa.

Tiết kiệm được 60% lượng nước tưới là kết quả triển khai mô hình trình diễn thâm canh lạc vụ ĐX 2015 - 2016 tại Quảng Nam. Ngoài ra, việc chuyển đổi trồng lạc trên đất lúa đem lại hiệu quả hơn SX lúa gấp 3 lần.

LDH.01 có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 95 - 100 ngày), cây lạc khỏe, khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt, đốm nâu, héo xanh cao...

Giải pháp của Syngenta trên cây lạc là rất hiệu quả. Bằng chứng mà ai cũng thấy là các bệnh lở cổ rễ, bệnh thối gốc, đốm lá, gỉ sắt… đều không xuất hiện.

Xem tiếp